Kỷ niệm không phai mờ của vị Thượng tướng

Thứ Ba, 5/11/2013 | 14:20 UTC+7

(iTin) - Thượng tướng Trần Văn Quang, 75 năm tuổi đảng, nguyên Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã từ trần vào hồi 23h15 ngày 3/11/2013 tại Quân y viện 108, Hà Nội. Hưởng thọ 97 tuổi.

=>Thượng tướng Trần Văn Quang qua đời


Thượng tướng Trần Văn Quang (1917-2013)

Nhớ về ông, Trang TTĐT iTin xin đăng lại bài “Kỷ niệm không phai mờ của vị Thượng tướng” của các tác giả Phạm Đạo và Ngọc Hiếu, bài đăng trên Báo Nhân dân số ra ngày 1/2/2010.

Khi mưa xuân lắc rắc rơi trên phố phường Hà Nội, chúng tôi đến phố Trúc Khê, hỏi vào nhà vị Thượng tướng Trần Văn Quang. Rồi tôi cũng tìm được nhà ông. Đón tôi vào chưa kịp đóng cổng, chú vệ binh lại lễ phép mời một ông khách vào tiếp. Tôi chợt nhận ra đó là Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu IV. Ông Trung tướng tay cầm túi quà nặng trịch cất tiếng:

Em từ quê ra, có mấy quả cam Bố Hạ biếu anh. Dạo này em bận việc nhà lắm. Tháng rồi ba lần về quê, nên có điện thoại hỏi thăm sức khỏe mong anh Quang thông cảm cho em.

Nhìn hai lão tướng ngồi nói chuyện với nhau, ông Trung tướng đầu bạc trắng như cước cứ một điều anh, hai điều anh với ông Thượng tướng, dù họ đã xông pha trận mạc trên mọi nẻo đường Tổ quốc, tôi càng thấu hiểu tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, cao cả đến như vậy. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đặt bàn tay gầy gò lên vai tôi:

Anh Quang tham gia cách mạng từ khi tôi còn nhỏ, là thủ trưởng trực tiếp, là đồng hương Nghi Lộc, Nghệ An của tôi, nhà gần nhau lắm. Thủ trưởng tôi giữ kỷ lục là đại biểu chính thức của 8/10 Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng ta đấy.

Thượng tướng Trần Văn Quang năm nay 94 tuổi đời, 73 năm tuổi Đảng. Đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936, được Đảng và Quân đội giao nhiều trọng trách, từng là Thành ủy viên Sài Gòn – Chợ Lớn (1938 - 1939) hoạt động trong phong trào công nhân xe lửa và thợ cơ khí. Hai lần bị thực dân Pháp bỏ tù và kết án chung thân đày vào nhà lao Buôn Ma Thuột. Đồng chí từng là Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 304; là Phó Tổng Tham mưu trưởng; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đội Việt Nam tại Lào; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

75 năm qua, vị Thượng tướng là nhân chứng lịch sử, là kho tư liệu sống về tình đồng chí, đồng bào và đồng đội, chắc đồng chí còn nhiều lắm những kỷ niệm sâu sắc để nói với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau? Tôi ướm hỏi, ông cụ chậm rãi trả lời:

Lúc trẻ thì mải mê đánh giặc. Lúc về già thì chợt nhớ, chợt quên.

Vị Thượng tướng lật từng trang sổ công tác ông còn giữ được và kể: Tháng 2-1951, Đảng ta tổ chức Đại hội lần thứ hai tại huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Hai ngày trước khi kết thúc Đại hội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi tôi và chỉ thị: “Bác có ý định đến thăm Đại đoàn 304. Ngày mai Đại hội tổ chức bỏ phiếu bầu BCH Trung ương, đồng chí xin bỏ phiếu trước rồi về ngay Đại đoàn chuẩn bị kế hoạch đón Bác”.

Ngày Bác về thăm Đại đoàn đã gần 12 giờ đêm, sau một chặng đường dài đi bộ. Chúng tôi chỉ làm vội một cái lán nhỏ mái lợp bằng lá cọ thưa thớt và một cái giường tre lót lá chuối khô. Mùa đông ở rừng núi, rét như cứa vào da thịt con người. Bác Hồ, dáng chừng mệt mỏi, vỗ nhẹ tay lên giường nói với chúng tôi: “Có hai chiếc chăn chiên cơ à. Bác đắp một chiếc là đủ rồi, chú Quang mang ra cho anh em đắp”. Tôi đón chiếc chăn từ tay Bác mà thấy nặng như tảng đá bởi tấm lòng của Người dành cho tất cả những người lính. Tháng 5-1968, là Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên, tôi ra Hà Nội báo cáo Bộ Chính trị tình hình đợt hai cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân. Kết thúc những ngày làm việc, đồng chí Lê Duẩn gợi ý chúng tôi xin được gặp Bác tại nhà riêng. Đồng chí Lê Văn Lương, Thường trực Ban Bí thư dặn thêm: “Bác đang mệt, các đồng chí nên báo cáo ngắn gọn, chớ nói nhiều về hy sinh, tổn thất”. Từ trong căn nhà gạch, bước ra, Bác thấy chúng tôi mắt ai cũng ngấn lệ, Người chậm rãi nói, như cha đối với con: “Sao lại thế! Sao lại thế”. Báo cáo tình hình Chiến trường Trị – Thiên với Bác và hai đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị xong, chúng tôi giật mình đứng lặng một hồi lâu nghe Người nói: “Bác cảm ơn các chú đã báo cáo nhưng chưa nói đến những khuyết điểm của… Các chú về chuyển lời thăm hỏi của Bác đến đồng bào, bộ đội, cán bộ Trị Thiên – Huế… cố gắng khắc phục khó khăn, gian khổ để giành thắng lợi mới”. Thì ra Bác theo dõi chiến trường rất sát sao.

Sau một thời gian làm việc tại Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan của Bộ Quốc phòng, tháng 5-1969, tôi được lệnh trở lại Chiến trường Trị – Thiên. Trước lúc ra trận, tôi và đồng chí Thiếu tướng Lê Chưởng, Chính ủy Quân khu Trị – Thiên được Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp mời cơm. Lúc này, Bác đã mệt lắm nhưng vẫn cố ăn gần hết hai lưng bát cơm để động viên chúng tôi. Cơm nước xong xuôi, chúng tôi chào Bác chuẩn bị ra về. Bác ân cần động viên chúng tôi, chợt Người nhìn thẳng vào chúng tôi và nói trong hơi thở: “Các chú cho Bác vào Nam với…”. Để chúng tôi không bật khóc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng: Bác nhắc các đồng chí cố gắng giành thắng lợi lớn để sớm đón Bác vào thăm đồng bào.

“Các chú cho Bác vào Nam với”, từ bữa cơm hôm ấy, đã trở thành lời kêu gọi thiêng liêng nhất, giúp tôi và đồng đội vượt lên muôn ngàn hy sinh gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ của người lính Cụ Hồ.

Giọt nước mắt đã lăn trên khuôn mặt vị Thượng tướng.

Với các lãnh tụ tiền bối của Đảng, Thượng tướng Trần Văn Quang kể: Năm 1938, Trung ương Đảng ta có chủ trương tăng cường đảng viên trẻ cho một số Đảng bộ miền Nam, tôi là Huyện ủy viên Huyện ủy Nghi Lộc, được Tỉnh ủy Nghệ An giới thiệu vào đội ngũ cán bộ tăng cường và được bố trí ra ga Quán Hành đón gặp cán bộ Trung ương trên chuyến xe lửa vào Nam. Tàu chỉ dừng lại ga xép này vài phút, tôi đã gặp được đồng chí Lé và nhận từ tay đồng chí chiếc va-li đen với lời dặn: Anh vào Sài Gòn, đến số nhà 127 đường Ben-gic gặp anh Ba Tri. Theo lời dặn, tôi vào Sài Gòn đã thấy đồng chí Lé đợi sẵn và viết thư giới thiệu tôi gặp chị Ba Bắc Kỳ (bí danh của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai) nhận nhiệm vụ của Thành ủy viên Thành ủy Sài Gòn. Năm sau, vào tháng chín, tôi lại được tổ chức đón đồng chí Lé từ Sài Gòn ra Bắc, xuống ga Quán Hành để đánh lạc hướng bọn mật thám. Những ngày được làm việc với đồng chí Lé, tôi được chỉ bảo ân cần, nhất là việc giúp đồng chí Lé chép tay bản tài liệu “Tình hình và nhiệm vụ”. Tôi coi đó là khóa đào tạo cán bộ đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng. Mãi đến khi báo chí đưa tin, đăng ảnh thực dân Pháp xử bắn Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, lúc đó tôi mới nhận ra đây chính là đồng chí Lé. Đó là người thầy đầu tiên dẫn dắt tôi vào cuộc đời hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

Khoảng tháng 8-1939, Thượng tướng Trần Văn Quang được gặp đồng chí Lê Duẩn tại Chợ Lớn. Những kỷ niệm sâu sắc của ông về đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn mà ông coi là người thầy kính mến thì nhiều, nhưng ông nhớ nhất một chuyện. Đó là khi trả lời câu hỏi của đồng chí Lê Duẩn về tình hình quần chúng ở địa bàn do Thượng tướng Trần Văn Quang phụ trách, ông nói: “Ở đấy, tất cả quần chúng là của Đảng”. Đồng chí Lê Duẩn nhìn thẳng vào mắt ông và nói với giọng gay gắt: “Đảng là của quần chúng chứ sao lại nói quần chúng là của Đảng. Đảng ta là một bộ phận ưu tú của dân, phục vụ dân, chiến đấu vì nhân dân”Đã 60 năm trôi qua, những lời anh Ba Duẩn dạy bảo vẫn còn như vang vọng bên tai tôi, lão đồng chí Trần Văn Quang nói.

Tôi ngước mắt nhìn lên, bắt gặp những giọt nước thấm đẫm tình Đảng, tình dân, tình quân lăn trên má vị Thượng tướng đã từng xông pha trận mạc suốt hai cuộc kháng chiến đầy hy sinh, gian khổ của dân tộc.

Phạm Đạo – Ngọc Hiếu 

Ý kiến phản hồi(0)
Ý kiến của bạn

Tin mới nhất
Tin cũ hơn
Giá vàng 9999
Tỷ giá
(Nguồn: EXIMBANK)

Thông tin quảng bá